MediMusik - Liệu Pháp Âm Trị Liệu Giảm Ù Tai

Ù tai – Từ góc độ chuyên gia

Ù tai là triệu chứng thường gặp, ảnh hưởng 30% người lớn tuổi (> 55). – 1-5% các trường hợp ù tai gây khó khăn sinh hoạt hằng ngày. – Tổn thương thính giác gây nghe kém làm gia tăng thay đổi hệ thần kinh trung ương gây ù tai. cơ chế ù tai liên quan nhiều đến sự kích hoạt ngoại biên và tái phối trí chức năng thính giác trung ương. – Âm thanh điều trị kết hợp hướng dẫn bệnh nhân, có hiệu quả trong điều trị ù tai ở hầu hết các trường hợp, điều trị hỗ trợ hướng đến các yếu tố làm gia tăng ù tai. – Các thuốc có thể hiệu quả đối với các dạng ù tai đặc biệt. – Cần đánh giá các trạng thái lo lắng, trầm cảm bởi chuyên khoa tâm thần nhằm điều chỉnh hành vi – Kiến thức chức năng thính giác, sinh lý đầu-cổ rất quan trọng nhằm đánh giá, chẩn đoán và điều trị ù tai. bao gồm: hướng dẫn bệnh nhân, phục hồi sức nghe cũng như xác định các yếu tố làm gia tăng ù tai

KHÁI NIỆM

Ù tai là âm ù trong tai, âm này không bắt nguồn từ môi trường bên ngoài và được phân biệt với ảo thính trong bệnh tâm thần phân liệt hoặc các bệnh lý tâm thần khác. Ù tai có thể liên tục hoặc cách hồi, âm ù bao gồm: tiếng chuông, tiếng vo ve, tiếng huýt gió, tiếng xèo xèo, tiếng gầm, tiếng chiêm chiếp của gà con hoặc các âm khác…

Tại Mỹ khoảng 40 triệu người đã từng có triệu chứng ù tai (Seidman và Jacobson: 1996), tần xuất ù tai gia tăng theo tuổi với 27% ở phái nam và 15% ở phái nữ > 45 tuổi (Adams: 1999). Ù tai hiếm gặp ở trẻ em có sức nghe bình thường nhưng ở trẻ nghe kém tần xuất khoảng 33% (Drukier: 1989). Ù tai phái nam > phái nữ có lẽ do thường xuyên tiếp xúc tiếng ồn trong công việc hằng ngày, vì vậy nghe kém và ù tai ở phái nam > phái nữ.

PHÂN LOẠI Ù TAI

Ù tai có thể phân làm 4 loại cơ bản

Ù tai cấp

Kéo dài từ vài ngày đến vài tuần, nguyên nhân thường do nhiễm trùng tai, một số loại thuốc, chấn thương đầu cổ, tiếp xúc tiếng ồn lớn kéo dài, ráy tai và bệnh lý huyết áp, tim mạch, bệnh lý biến dưỡng, nhìn chung các bệnh lý này thường xác định được và điều trị khá hiệu quả, vì vậy ù tai thường được giải quyết tốt.

Ù tai mạn

Kéo dài ≥ 3 tháng, có thể do các nguyên nhân đã được nêu trên, đồng thời thường xảy ra ở bệnh nhân nghe kém. Hầu hết các trường hợp ù tai mạn rất khó điều trị hết hẳn, các phương

pháp điều trị hiện nay chỉ có khả năng làm giảm mức âm ù giúp người bệnh thoải mái hơn với một chiến lược kiểm soát ù tai lâu dài phù hợp với từng người bệnh.

Ù tai khách quan

Thầy thuốc và những người chung quanh cũng có thể nghe được âm ù phát ra từ tai người bệnh, nguyên nhân có thể do bất thường mạch máu (rò động- tĩnh mạch bẩm sinh), ống nối động- tĩnh mạch mắc phải, u cuộn cảnh, độ xoáy dòng chảy động mạch cảnh, hẹp động mạch cảnh, còn động mạch bàn đạp hoặc các vòng mạch như vòng mạch động mạch nối trước-dưới (AICA) hoặc động mạch nối saudưới (PICA) chèn ép thần kinh thính giác hoặc rối loạn cơ học như bất thường vòi nhĩ, co thắt các cơ khẩu cái, bệnh khớp thái dương hàm và co thắt cơ bàn đạp.  Tuy nhiên ù tai khách quan rất hiếm gặp, tỉ lệ < 1% trong toàn bộ các trường hợp ù tai. Hầu hết ù tai đều thuộc dạng ù tai chủ quan.

Chỉ có người bệnh nghe được âm ù này trong tai, nguyên nhân thường gặp như tiếp xúc tiếng ồn quá lớn và kéo dài như tiếng ồn công nghiệp, tiếng súng, máy nổ hoặc nghe nhạc.

CƠ CHẾ Ù TAI DO TỔN THƯƠNG TAI TRONG

Tổn thương lông chuyển của tế bào lông ốc tai

Các âm trung bình ≤ 80 dB SPL có thể làm cho lông chuyển kém di động, kích hoạt phóng tiết các phân tử dẫn truyền thần kinh từ phần đáy tế bào lông ốc tai có tác dụng hoạt hóa tế bào thần kinh thính giác.  Cường độ tiếng ồn quá lớn (≥ 85 dB SPL) có tác dụng làm cho lông chuyển uốn cong quá mức (hình 1), người bệnh sẽ nghe một âm ù tần số cao do tế bào lông đáp ứng với âm tần số cao ở đáy ốc tai và đây là vị trí tổn thương đầu tiên đối với tiếng ồn. Hình 10.1A cho thấy hệ thống lông chuyển bình thường và hình10. 1B tổn thương hệ thống lông chuyển do tiếp xúc tiếng ồn quá lớn.

Ù tai chủ quan

Tổn thương lông chuyển vừa phải và không thường xuyên

Có thể phục hồi chức năng trong vài phút hoặc vài giờ, sức nghe được phục hồi và ù tai biến mất. Tuy nhiên nếu tiếp xúc tiếng ồn thường xuyên sẽ làm cho hệ lông chuyển và tế bào lông ốc tai tổn thương không thể phục hồi, hiện tượng này gây nghe kém tiếp nhận thần kinh vĩnh viễn và gây triệu chứng ù tai.

Nghe kém hoặc tổn thương hệ thính giác: có thể gây ù tai (bảng 1)

Hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (FMRI) hoặc chụp cắt lớp positron (PET) cho thấy âm ù mạn thường là hậu quả của sự tăng hoạt các vùng thính giác trung ương, đặc biệt ở vỏ thính giác. Do hệ thống thính giác suy thoái theo quá trình tuổi tác hoặc tổn thương mắc phải do tiếng ồn, tai nạn hoặc do các bệnh lý nội khoa khác, sự cân bằng của kích thích và ức chế xung thần kinh bị rối loạn.  Ở tai có âm ù, đường dẫn truyền thính giác bị hoạt hóa khi lẽ ra nó chưa thể bị hoạt hóa trong môi trường yên tĩnh, điều này khiến bệnh nhân nghe âm ù trong tai.

Bảng 1. Nguyên nhân ù tai thường gặp.

– Lão thính: nghe kém ở người lớn tuổi.

– Tiếp xúc tiếng ồn kéo dài: tiếng ồn gây nghe kém.

– Chấn thương âm: tiếp xúc với âm cường độ cao đột ngột.

– Xơ tai: tích lũy canxi bất thường ở chuỗi xương con và ốc tai.

– Nhiễm trùng: siêu vi, vi trùng, nấm.

– Nghe kém miễn dịch.

– Bệnh lý Ménière hoặc các dạng sũng nước nội dịch khác, áp lực nội dịch tai trong cao bất thường.

– Các u: u thần kinh VIII, cholesteatoma.

– Bệnh lý về gene.

– Chất độc cho tai: kim loại nặng, các thuốc kháng sinh: aminoglycoside (gentamicin, streptomicin), valproate, quinine, cisplatin, lợi tiểu vòng (furosemide).

– Bệnh lý mạch máu: tăng huyết áp, xơ mỡ động mạch, lựu động mạch não, tai biến mạch máu não.

– Rối loạn biến dưỡng: thiếu máu, suy giáp, cường giáp, đái tháo đường. – Chấn thương đầu cổ.

ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN

Điểm quan trọng là cần xác định và điều trị bệnh lý đang diễn tiến gây ù tai, vì vậy cần thu thập toàn bộ các thông tin có thể biết được

Bệnh sử ù tai

Đầu tiên cần xác định thời gian ù tai kéo dài và một số dữ liệu khác như nhiễm trùng hô hấp trên, đau tai, tiếp xúc tiếng ồn, chấn thương đầu, điếc đột ngột hoặc chóng mặt xảy ra vào thời điểm khởi phát ù tai. Hướng dẫn bệnh nhân mô tả tính chất ù tai: cách khoảng hoặc liên tục, cường độ âm ù lớn hay nhỏ, tần số cao hay thấp, một bên hoặc hai bên, có hay không có nhịp, âm ù giống như một âm tự nhiên nào (tiếng ve kêu, tiếng sóng vỗ, tiếng gió thổi, tiếng tíc tắc đồng hồ, tiếng sấm, tiếng thắng xe…). Ù tai và nghe kém một bên có thể nghĩ đến u thần kinh VIII hoặc tai biến mạch máu não, ù tai tần số cao thường đi cùng với nghe kém tần số cao do lão thính hoặc tiếp xúc với tiếng ồn quá lớn kéo dài. Âm ù tần số thấp thường phối hợp với nghe kém tần số thấp thường gặp trong bệnh lý Ménière. Ù tai có nhịp, đặc biệt đồng bộ với mạch đập có thể nghĩ đến bất thường mạch máu ở vùng đầu cổ.  Các hiện tượng như cảm giác mệt mỏi, stress, tiếp xúc tiếng ồn hoặc một loại thuốc có làm triệu chứng ù tai nặng hơn không? các âm che lấp (tiếng mưa rì rào, tiếng xè xè vòi sen, nhạc êm dịu), một số thuốc hoặc yếu tố khác có làm giảm ù tai. Thông tin này rất cần thiết trong việc lập trình kiểm soát và điều trị ù tai. Đánh giá mức độ ù tai theo phương pháp Meikle (1995): bảng 10.2, phương pháp này:  – ≤ 36 điểm: ù tai gây khó chịu. – > 36 điểm: ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, chất lượng cuộc sống

Bệnh sử nghe kém

Xác định có hay không có nghe kém, loại nghe kém, mức nghe kém trung bình, cơ quan tổn thương gây nghe kém và xác định bệnh lý gây nghe kém và ù tai (nghe kém bẩm sinh, điếc đột ngột, nghe kém dẫn truyền, nghe kém tiếp nhận-thần kinh hoặc nghe kép hổn hợp). Cũng cần lưu ý trình trạng nhiễm trùng tai, tai đã phẫu thuật, tiếp xúc tiếng ồn (nghề nghiệp hoặc thú tiêu khiển đặc biệt nghe nhạc bằng ear-phone), đau tai, chảy tai, chóng mặt hoặc tình trạng mất thăng bằng. Khai thác thêm có hoặc không người thân trong gia đình vừa mới bị nghe kém hoặc ù tai.

Bệnh lý nội khoa liên quan

Các bệnh lý gây nghe kém và ù tai như tăng huyết áp, nhược giáp, đái tháo đường, xơ mỡ động mạch và các bệnh lý tự miễn (hồng ban, thấp khớp). Các loại thuốc gây độc cho tai như aminoglycoside, lợi tiểu (furosemide), cisplatin,valproic acid, quinine liều cao. Lạm dụng rượu, cà phê, aspirin hoặc các thuốc kháng viêm nonsteroides có thể làm tăng ù tai. Tuy nhiên sử dụng các chất này ở mức độ vừa phải thường không gây triệu chứng ù tai.

Bệnh sử tâm sinh lý Tình trạng hôn nhân, gia đình và nghề nghiệp, thất nghiệp và sống cô độc thường ù tai nặng hơn đối với người có việc làm ổn định và có lối sống tích cực. Mất ngủ, lo lắng, trầm cảm, các bệnh lý tâm lý cũng làm ù tai nặng hơn.

THĂM KHÁM LÂM SÀNG Thăm khám tai mũi họng-đầu mặt cổ Thăm khám tai có thể phát hiện nhiễm trùng như viêm tai giữa gây đau tai, nghe kém phối hợp với ù tai, soi tai có thể phát hiện ráy tai làm tắc nghẽn ống tai ngoài và làm màng nhĩ kém di động gây nghe kém dẫn truyền, ù tai, cảm giác đầy tai, các triệu chứng này thường mất hẳn khi lấy hết ráy tai.

Nếu ù tai đồng bộ với mạch đập, nghĩ đến bệnh lý mạch máu. Đặt ống nghe lên các mạch máu ở vùng cổ có thể phát hiện các âm thổi mạch máu, cho biết có hiện tượng dòng máu tắc nghẽn tạm thời ở tĩnh mạch cảnh cùng bên với ù tai.

Thăm khám thần kinh

Bao gồm các nghiệm pháp Romberg, DixHallpike nếu có chóng mặt, thăm khám chức năng các thần kinh sọ.

Thăm khám thính lực

Bao gồm đo ngưỡng dẫn truyền khí và ngưỡng dẫn truyền xương âm đơn, đo thính lực lời, trở kháng, mức nghe thoải mái cao nhất (MCL), mức nghe khó chịu nhất (LDL). Nhĩ lượng bất thường và sự khác biệt có ý nghĩa giữa ngưỡng dẫn truyền khi và ngưỡng dẫn truyền xương cho biết viêm tai giữa, xơ nhĩ hoặc cholesteatoma.

Phương pháp đo âm ù (Đặng Xuân Hùng 2010)

Đây là phương pháp so sánh độ cao trung bình của âm phát ra ở tai không ù với độ cao âm ù ở tai đối bên về tần số và cường độ âm.

Bước I: Đo và xác định ngưỡng nghe trung bình qua thính lực đồ (PTA).

Bước II: Xác định dạng âm ù. – Phát một âm đơn ở tai không ù với tần số 1000 Hz, cường độ ≥ 5 dB so với ngưỡng nghe đã biết qua đo thính lực, kéo dài 3 phút. Đề nghị bệnh nhân tập trung nghe âm, so sánh với cao độ âm ù tai đối diện. – Phát một âm dải rộng (âm gây ù) cũng ở tần số 1000 Hz, cường độ ≥ 5 dB so với ngưỡng nghe, kéo dài 3 phút. Đề nghị bệnh nhân tập trung nghe, ghi nhận âm, so sánh với cao độ âm ù tai đối diện. – Người bệnh cho biết giữa hai âm phát này, âm nào có cao độ giống hơn so với âm ù tai đối diện, đến đây ta xác định được dạng âm ù: âm đơn hoặc âm dải rộng.

Bước III: giả sử âm dải rộng được cho là gần giống với âm ù, xác định tần số âm ù. – Phát âm dải rộng bắt đầu từ 1000 Hz, cường độ 5 dB trên ngưỡng nghe, thay đổi tần số mỗi ½ ốc ta, có nghĩa tần số phát ra là 250, 500, 750, 1000,1500, 2000, 3000, 4000, 6000, 8000Hz… – Đề nghị bệnh nhân tập trung nghe và cho biết độ cao của âm phát gần giống nhất so với âm ù tai đối diện. – Thực hiện nghiệm pháp này 3 lần, lấy trung bình cộng. – Đến đây ta xác định được tần số âm ù: thí dụ tần số âm gần giống âm ù là 3000 Hz.

Bước IV: xác định cường độ âm ù. – Dựa vào tần số âm ù đã được xác định bên trên. – Phát một âm ù có tần số đã biết (3000 Hz) với cường độ tăng dần mỗi 5 dB SPL. – Đề nghị bệnh nhân tập trung nghe và cho biết cường độ âm phát gần giống nhất so với âm ù tai đối diện. – Tăng, giảm từng 5 dB quanh cường độ gần giống âm ù, thực hiện 3 lần, lấy trị số cường độ trung bình. – Đến đây ta đã xác định được cả tần số và cường độ âm ù ở tai đối diện.

– Thí dụ: âm ù có tần số 3000 Hz và cường độ là 8 dB SL trên ngưỡng nghe đã biết qua thính lực đồ.

Bước V: xác định mức gây ù tối thiểu. – Là cường độ âm dải rộng hoặc âm trắng thấp nhất (200-12.000 Hz) che lắp toàn bộ âm ù. – Mức gây ù tối thiểu = cường độ âm ù, giảm dần cường độ âm giải rộng phát ra cho đến khi không còn nghe âm ù: đây là cường độ âm tối thiểu che lấp âm ù (giao động quanh 8 dB SPL (thí dụ 7 dB SPL).

Bước VI: Đo khả năng ức chế âm ù. – Đây là hiện tượng ức chế âm ù hoặc làm cho âm ù biến mất tạm thời sau khi tai không ù được gây ù. – Dùng âm dải rộng (1800-12.000 Hz) có cường độ tăng dần 1 dB trên ngưỡng gây ù tối thiểu, âm kéo dài trong vòng 1 phút thông qua headphone, người bệnh cho biết cường độ âm hoàn toàn che lấp âm ù và được ứng dụng trong kỹ thuật lắp đặt trợ thính.

Đánh giá hỗ trợ Thăm khám lâm sàng và khai thác bệnh sử cho những thông tin có giá trị như nghe kém không đối xứng và ù tai một bên cho biết tổn thương sau ốc tai (u thần kinh VIII). Bệnh lý sau ốc tai được đánh giá qua ABR, các sóng ABR bất thường cho biết tổn thương sau ốc tai với nghe kém và ù tai cùng bên.  Ù tai tần số thấp kết hợp với nghe kém tạm thời hoặc kéo dài, chóng mặt, cảm giác đầy tai có thể cho biết sũng nước nội dịch hoặc bệnh lý Ménière, triệu chứng có thể ở dạng cấp, tần số âm ù tăng dần trong một vài năm đầu tiên, sau đó tần số giảm dần khi ngưỡng nghe ổn định. Đo điện ốc tai là phương pháp chẩn đoán để phát hiện sũng nước nội dịch. Ù tai có nhịp phối hợp với bất thường mạch máu ở cổ có thể đánh giá qua hình ảnh siêu âm, chụp mạch máu kinh điển hoặc chụp mạch máu cộng hưởng từ. Tuy nhiên nhiều trường hợp ù tai có nhịp không phát sinh từ nguyên nhân trên. Ù tai có nhịp thường là hậu quả của nghe kém do xơ mỡ động mạch, giảm trọng

hoặc tăng cân, thay đổi sinh lý này có thể gây ù tai theo nhịp mạch.  Đặc biệt trong trường hợp điếc đột ngột hai bên, có thể nghĩ nhiều đến bệnh lý tự miễn tai trong, chẩn đoán bao gồm xét nghiệm miễn dịch western blot.

ĐIỀU TRỊ THEO NGUYÊN NHÂN

Nhiều nguyên nhân gây ù tai có thể được điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa.

Viêm tai giữa Điều trị nhiễm trùng tai giữa bằng kháng sinh đường uống có thể giải quyết tốt các triệu chứng thính giác.

Dị ứng-Nhiễm trùng xoang Khi hiện tượng viêm giảm đi, triệu chứng ù tai và những triệu chứng liên quan đến dị ứng hoặc nhiễm trùng xoang thường được giải quyết tốt, ứng dụng trong thủ thuật chích corticoides xuyên nhĩ.

Xơ tai Sự tích lũy các mảng canxi trên chuỗi xương con, đặc biệt xương bàn đạp hoặc ốc tai có thể gây nghe kém dẫn truyền hoặc nghe kém tiếp nhận thần kinh, ù tai và rối loạn tiền đình. Phẫu thuật mở xương bàn đạp, kể cả đặt implant thường giải quyết tốt các triệu chứng trên. Trợ thính kinh điển hoặc trợ thính qua đường xương cũng có thể cho kết quả tốt.

Bệnh Ménière-sũng nước nội dịch Bệnh Ménière đặc trưng bởi áp lực dịch tăng cao bất thường ở ốc tai, tại Mỹ chiếm tỉ lệ 1% dân số (Costa: 2002). Thuốc điều trị bao gồm meclizine, thuốc kháng nôn, lợi tiểu cùng với chế độ ăn giảm muối. Nếu không đáp ứng với meclizine, diazepam có thể được thay thế để giảm triệu chứng các cơn chóng mặt cấp. Can thiệp phẫu thuật bao gồm mở túi nội dịch, cắt bỏ tiền đình, cắt thần kinh tiền đình và chích corticoides hoặc gentamicin được chọn lựa đối với những trường hợp nặng.

Bệnh lý miễn dịch tai trong Chiếm 0,1% tại Mỹ (Hain: 2004), triệu chứng gồm điếc đột ngột một tai, sau đó có diễn tiến sang tai đối diện. Triệu chứng đầy tai, chóng mặt, ù tai (tiếng chuông, tiếng huýt gió, tiếng sóng vỗ). Bệnh lý này đáp ứng tốt với liệu pháp corticoides đường uống ngay từ đầu.

Bất thường hệ thính giác U thần kinh VIII hoặc cholesteatoma đều có thể gây ù tai. U thần kinh VIII là một u lành tính phát sinh từ nhánh tiền đình thần kinh VIII, triệu chứng bao gồm nghe kém một bên, ù tai và rối loạn tiền đình. Phẫu thuật cắt bỏ thần kinh hoặc xạ trị u có thể giải quyết tốt những triệu chứng này đặc biệt khi u mới phát triển có đường kính còn nhỏ. Cholesteatoma là khối u tế bào biểu mô lành tính phát triển ở hòm nhĩ, theo thời gian cholesteatoma có thể xâm lấn, phá hủy chuỗi xương con. Nghe kém, ù tai, chóng mặt và liệt cơ mặt cùng bên do cholesteatoma phát triển. Phát hiện và phẫu thuật sớm có thể giải quyết tốt các triệu chứng trên.

Tăng huyết áp-huyết áp thấp Tăng huyết áp thường gây ù tai hơn so với huyết áp thấp, điều chỉnh và duy trì huyết áp trong giới hạn cho phép có thể làm giảm hoặc làm mất hẳn triệu chứng ù tai.

Rối loạn biến dưỡng Các bệnh lý biến dưỡng như đái tháo đường, cường giáp hoặc suy giáp có thể gây ù tai. Kiểm soát tốt các bệnh lý này giúp làm giảm hoặc hết hẳn ù tai.

KIỂM SOÁT Ù TAI MẠN TÍNH

Điều trị tốt các bệnh lý được mô tả trên thường giúp giải quyết hoặc làm giảm ù tai, tuy nhiên nếu ù tai vẫn tiếp tục tiến triển, cần chuyển mục tiêu từ điều trị sang quản lý hoặc kiểm soát âm ù. Theo quan điểm này hai việc cần làm là: giúp bệnh nhân kiểm soát ù tai bằng chiến lược cụ thể và thực hiện chương trình kiểm soát ù tai tổng hợp bởi các nhà thính học có kinh nghiệm để giúp bệnh nhân kiểm soát tốt âm ù. Ù tai mạn tính được định nghĩa là âm ù kéo dài ≥ 3 tháng, trên 90% trường hợp ù tai mạn tính thường kết hợp với nghe kém tiếp nhận thần kinh với những mức độ khác nhau (Meikle: 1997). Do nghe kém tiếp nhận thần kinh không phục hồi, vì vậy ù tai trong trường hợp này cũng không thể điều trị được. Duckro (1984) cho rằng: cùng với triệu chứng đau mạn tính, điều trị ù tai mạn tính thực chất chỉ là kiểm soát hơn là điều trị. Điểm đáng chú ý: mục tiêu kiểm soát ù tai không nhất thiết phải là che lấp hoặc làm mất hẳn âm ù đối với người bệnh. Trong nhiều trường hợp điều này là không thể thực hiện được. Kiểm soát thành công ù tai chỉ có thể giúp bệnh nhân ít chú ý hơn đến âm ù. Chương trình quản lý hiệu quả giúp người bệnh hiểu được và thực hiện chương trình kiểm soát ù tai hơn là ù tai ảnh hưởng lên người bệnh. Mục tiêu chủ yếu của chương trình nhằm làm giảm mức độ ù tai và cải thiện các tác động có hại của ù tai lên đời sống và sinh hoạt của người bệnh.

Ổn định mức ù tai Khoảng 25% ù tai mạn được xem là triệu chứng gây khó khăn thật sự cho người bệnh (Seidman và Jacobson: 1996) và cần đến điều trị. Nếu triệu chứng ù tai không gây khó chịu cho người bệnh hoặc không phát hiện bệnh lý đang tiến triển, điều trị thật sự không cần thiết.  Làm thế nào để phân biệt người bệnh không bị quấy rầy bởi ù tai từ số bệnh nhân bị ù tai thật sự? phải chăng cường độ, tần số hoặc các yếu tố khác của âm ù ảnh hưởng lên vấn đề này? nhiều nghiên cứu cho thấy mức ù tai không có liên quan đến các thông số âm ù ở bệnh nhân (Folmer: 2002). Mức ù tai có thể được xác định bởi nhiều cách: mức độ hoặc tần xuất bị quấy rầy bởi âm ù, mức âm ù ảnh hưởng tới sự hứng thú trong cuộc sống của người bệnh cũng như bằng cách nào người bệnh có thể tự làm giảm âm ù trong tai. Các thông số ở bảng 1 có thể dùng để đánh giá mức ù tai.

CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT Ù TAI

Khi các nguyên nhân gây bệnh được phát hiện, điều trị và tham vấn cho người bệnh về những yếu tố có thể thúc đẩy hoặc cải thiện âm ù. Nếu người bệnh hiểu được âm ù thật sự chỉ là một âm, họ sẽ có khả năng quên đi hoặc ít chú ý đến âm ù và có thể giúp làm rõ triệu chứng ù tai và khuyến khích người bệnh nhận thức được một cách thực tế hơn về triệu chứng ù tai. Ù tai thường kết hợp với mất ngủ, lo lắng và trầm cảm, các yếu tố này có thể tạo nên một vòng xoắn bệnh lý, mỗi yếu tố đều có thể thúc đẩy các yếu tố còn lại trở nên trầm trọng hơn (hình10. 2). Ù tai không luôn là yếu tố khởi phát đầu tiên trong vòng xoắn này, có lúc trầm cảm, mất ngủ hoặc lo lắng là yếu tố thúc đẩy dẫn đến ù tai. Điều trị nội khoa hoặc tâm lý liệu pháp thường làm giảm những triệu chứng này, vì vậy phương pháp làm giảm ù tai (Folmer: 2004) rất khác nhau cho mỗi người bệnh. Thật ra các chương trình kiểm soát ù tai chỉ thật sự thành công khi áp dụng nhiều chiến lược cùng lúc cho mỗi bệnh nhân (Roy và Chopra: 2002).

Hình 10.2. Vòng xoắn bệnh lý

Điều trị bằng âm trắng Là phương pháp rất quan trọng trong kiểm soát ù tai, điều trị bằng âm trắng được định nghĩa là dùng một âm đưa vào tai để làm giảm âm ù, đây không phải là một quan điểm điều trị mới

Alexander of Traller (525-625 trước công nguyên) đề xuất làm giảm ù tai bằng cách đi bộ ở nơi có tiếng ồn. – Salerno school (thế kỷ 12-13) ghi nhận: “tiếng ù trong tai giảm đi nếu tiếp nhận một âm khác có cường độ lớn hơn, phải chăng âm lớn này giúp che lấp âm ù ?” – Johan Jakob Wepfer (1620-1695) đã thử nghiệm: đập hai cục đá vào nhau, đặt sát vào tai, âm va chạm này giúp làm giảm hoặc làm mất âm ù. – Jean Marie Gaspard (1774-1838) ghi nhận: tiếng mài xát của hai vật cứng có thể làm giảm âm ù (tiếng gió thổi hoặc tiếng dòng nước chảy mạnh), tiếng nổ lốp bóp do cây tươi hoặc cây ẩm ướt đang cháy có thể làm giảm âm ù (tiếng huýt gió), âm ù giống như tiếng chuông, không quá lớn có thể bị che lấp bởi âm cộng hưởng của dòng nước chảy từ trên rót vào một đĩa bằng đồng đặt phía dưới, tiếng chuông đồng hồ lớn có thể làm giảm âm ù có dạng tiếng rít bánh xe đang chạy nhanh và đổi hướng đột ngột.

Hơn hai thế kỷ qua nhiều kỹ thuật và thiết bị đã được phát triển nhằm điều trị ù tai, Urbantschitsch (1883) đã dùng âm thoa, Wilson (1893) đã dùng điện thoại, Spaulding (1903) dùng đàn violin, Porter (1916) đề xuất đặt đồng hồ treo tường lớn gần giường ngủ người bệnh, (Saltzman và Ersner: 1947) dùng trợ thính để giảm âm ù. Tất cả các phương pháp trên đều có cùng một nguyên lý: gia tăng mức âm môi trường bên ngoài nhằm làm giảm mức âm ù trong tai. Hình10. 3 minh họa mức âm ù trước và sau khi tăng mức âm nền.

Thí nghiệm của Heller và Bergman (1953) đưa lần lượt 80 người tình nguyện có sức nghe bình thường và không ù tai vào buồng cách âm, đề nghị những người này chú ý nghe âm. Buồng cách âm có cường độ âm tối đa 18 dB SPL, kết quả cho thấy 75 người (94%) cho biết họ nghe âm giống như tiếng vù vù của đàn ong đang bay, tiếng o-o ruồi bay, tiếng chuông, tiếng côn trùng rả rích hoặc tiếng mạch đập. Tác giả kết luận:  Âm ù sinh lý: là âm tự phát của tai trong nhưng bị che lấp bởi âm môi trường có cường độ > 35 dB SPL và là cường độ đủ để che lấp âm ù sinh lý (< ngưỡng nghe). Rõ ràng không có phương pháp điều trị nào có khả năng loại trừ ù tai, phương pháp hiệu quả nhất chỉ có khả năng khi cường độ âm ù < ngưỡng nghe.

Một trong những mục tiêu của điều trị bằng âm thanh là gia tăng mức âm nền tức làm giảm tỉ lệ âm ù trên âm nền (hình10. 3), lưu ý mức âm ù không thay đổi, gia tăng âm nền giúp ít chú ý đến âm ù, hiện tượng này có thể hiểu như ánh sáng đèn cầy trong bóng đêm dù nhỏ nhưng vẫn gây sự chú ý nhưng dưới ánh sáng của nhiều ngọn đuốc, ánh sáng đèn cầy được xem là không đáng kể.

Máy phát âm Nguồn âm

Các nguồn âm tại nhà như radio, ti vi, máy nghe nhạc có thể giúp người bệnh giảm ù tai, ngoài ra có thể gắn các thiết bị phát âm khác ngay trong phòng ngủ nhằm giúp dễ ngủ và có giấc ngủ sâu hơn giúp giảm ù tai.

Nguồn âm có thể phát ra các âm có dải rộng tần số thấp như tiếng mưa rơi, tiếng gió thổi, tiếng thác đổ, tiếng sóng vỗ, tiếng mưa rừng, tiếng chim ríu rít, tiếng kẽo kẹt hoặc tiếng sấm. Các thiết bị phát âm này có thể nghe qua headphone, earphone, máy cassette.

Máy gây ù

Có nhiều loại trên thị trường, được cung cấp bởi các hãng như Starkey (Mỹ), Hansaton Akustik GmbH (Đức). Các thiết bị này phát ra một âm dải tần rộng (100-8000 Hz), cho nhiều tiện ích đối với bệnh nhân ù tai.

Âm phát ra giúp người bệnh ít chú ý âm ù do tỉ lệ âm ù/âm phát ra giảm.

– Âm phát ra làm giảm âm ù tần số cao giúp người bệnh thoải mái, quên đi âm ù. – Giúp người bệnh có thể kiểm soát âm ù.

– Có thể sử dụng dễ dàng mọi lúc mọi nơi. –

Do âm phát trực tiếp vào ống tai ngoài vì vậy chỉ cần dùng mức âm tương đối thấp. – Giúp người bệnh tập trung suy nghĩ và làm việc tốt hơn.

– Theo thời gian máy còn giúp người bệnh cải thiện mức âm ù qua các cơ chế:   Tạo điều kiện cho người bệnh tập làm quen và ít chú ý đến âm ù.

– Tăng lưu lượng máu đến tai trong (Quirk: 1992) giúp dinh dưỡng và duy trì các cấu trúc thính giác cũng như có thể làm lành tổn thương ốc tai nếu có.

– Làm giảm hoạt động thần kinh giúp giảm ù tai.

Che lấp toàn bộ âm ù cũng có thể đạt được bởi phương pháp điều trị ù tai bằng âm thanh, tuy nhiên điều này không phải là mục tiêu điều trị trừ khi người bệnh mong muốn. Đối với ù tai có mức ù tai tương đối thấp (0-2 dB SL), hầu hết các âm của máy phát đều có thể che lấp toàn bộ âm ù. Điểm đáng lưu ý nên khuyến khích người bệnh đeo máy phát âm ù càng nhiều càng tốt. Một số vấn đề trong khi đeo máy phát âm ù:

Nếu ù tai trở nên lớn hơn khi đeo máy, có cần mở lớn âm lượng của máy? 

Câu trả lời là: cần thiết, lưu ý âm phát ra từ máy không làm tổn thương hệ thống thính giác vì vậy không có gì lo ngại. Mức âm tối đa phát ra có thể lên đến 80 dB SPL, phần lớn người bệnh không muốn hoặc không cần thiết ở mức âm này, người bệnh tự điều chỉnh âm lượng phù hợp nhất với mình.

Thất bại trong việc sử dụng máy phát âm ù có thể do: Thời gian tham vấn cho bệnh nhân quá ít. Người bệnh không hợp tác. Sai lầm khi cho rằng che lấp toàn bộ âm ù là mục tiêu duy nhất, khi mục tiêu này không đạt được đã vội kết luận thất bại đối với máy phát âm ù. Cường độ phát âm của máy ở mức gây khó chịu cho người bệnh. Người bệnh không hiểu bằng cách nào máy phát âm ù giúp giảm ù tai. Folmer và Carroll (2006) cho thấy cải thiện âm ù khi sử dụng máy phát âm ù với thời gian trung bình 18 tháng.

Trợ thính

Trợ thính thường cải thiện âm ù ở người bệnh nghe kém, người bệnh thường than phiền ù tai gây khó khăn trong giao tiếp nhưng thực ra điều này chủ yếu do nghe kém. Rất dễ hiểu do nghe kém thường có diễn tiến chậm, ngược lại ù tai là một âm khó chịu và đôi khi khởi phát đột ngột, vì vậy người bệnh quan tâm đến ù tai nhiều hơn đối với nghe kém. Điểm quan trọng là cần giải thích cho người bệnh hiểu rõ mối tương quan giữa nghe kém và ù tai, phân biệt rõ giữa hai triệu chứng này.

– Ù tai không gây nghe kém nhưng nghe kém thường kèm triệu chứng ù tai. – Khi không còn ù tai, người bệnh nghe kém vẫn gặp khó khăn trong giao tiếp. – Trợ thính không có tác dụng khuếch đại âm ù, ngược lại còn giúp giảm mức âm ù ở tai do khuếch đại âm môi trường.

Trợ thính giúp cải thiện mức nghe hiểu lời ở bệnh nhân nghe kém. – Nếu sức nghe được phục hồi tốt hơn so với trước khi có triệu chứng ù tai, nhiều trường hợp ù tai dạng này có thể được điều trị tốt. Hiện nay trợ thính là phương pháp tốt nhất để phục hồi sức nghe. – Trợ thính còn giúp duy trì đường dẫn truyền thính giác trung ương ở bệnh nhân nghe kém. Nếu không thường xuyên kích thích hệ thính giác trung ương, đường dẫn truyền thần kinh trung ương rất dễ thoái hóa gây nghe kém nặng hơn. – Trong khi kích thích hệ thính giác trung ương, trợ thính còn có tác dụng làm giảm kích hoạt thần kinh, vì vậy làm giảm ù tai.

Để đạt được hiệu quả tối đa khi xử dụng trợ thính cần áp dụng các chiến lược sau đây: – Người bệnh cần nắm rõ mối tương quan giữa nghe kém và ù tai, cơ chế phát sinh ù tai, điều này giúp bệnh nhân hiểu rõ khó khăn trong giao tiếp không phải do ù tai mà thật ra do nghe kém. – Bản chất và ảnh hưởng của nghe kém trong giao tiếp và môi trường xã hội cần được xác định rõ và thảo luận với người bệnh một cách chi tiết.

Trợ thính cho nhiều tiện ích: cải thiện âm nghe và xác định rõ vị trí âm, tăng chỉ số nghe hiểu lời và giảm ù tai, giảm cảm giác e ngại khi giao tiếp và xa lánh xã hội, giúp ổn định tình cảm. Cải thiện các yếu tố này có thể giảm mức độ ù tai. Folmer và Carroll (2006) trong một nghiên cứu ở 50 bệnh nhân ù tai sử dụng trợ thính lần đầu, sau 18 tháng đều cho biết có cảm giác giảm mức độ ù tai.

Ù tai- điếc một tai

Nghe kém nặng đến điếc đặc và ù tai xảy ra cùng một tai là một thách thức đầy khó khăn khi ứng dụng phương pháp điều trị bằng âm thanh. Trong trường hợp này rất khó đưa một âm thanh từ bên ngoài vào tai để làm giảm âm ù, vì vậy cần thực hiện tất cả mọi phương pháp có thể để đạt được hiệu quả như: dùng trợ thính mạnh nhất, dùng trợ thính trong tai (ITE) hoặc sau tai (BTE). Nếu các phương pháp này đều không thành công, có thể sử dụng trợ thính ở tai đối diện (dù không nghe kém và ù tai) với mong muốn ứng dụng hiện tượng nghe xuyên đầu qua hệ thính giác trung ương để giảm âm ù ở tai bệnh. Cuối cùng nếu người bệnh muốn cải thiện khả năng định vị nguồn âm, có thể dùng phương pháp CROS, BICROS hoặc MultiCROS.

Các thiết bị cải thiện sức nghe khác

Bất kỳ thiết bị hoặc phương pháp nào bao gồm cấy ốc tai, cấy thân não, khuếch đại tai giữa hoặc sử dụng prostheses có thể làm giảm ù tai đều cần được thử nghiệm để đạt được kết quả mong muốn.

Thí dụ cấy ốc tai: nhiều nghiên cứu cho thấy cấy ốc tai có thể làm giảm hoặc ức chế âm ù ở phần lớn bệnh nhân ù tai (Dauman: 2000), theo đó cấy ốc tai được xem là một chọn lựa đối với nghe kém hai bên và ù tai.

KIỂM SOÁT LỐI SỐNG

Mục tiêu kiểm soát lối sống nhằm làm giảm mức ù tai cho đến khi không còn các phản ứng tiêu cực trong cuộc sống. Thay đổi lối sống phù hợp có thể giúp cho quá trình này gặp nhiều thuận lợi hơn. Chương trình kiểm soát ù tai hiệu quả bao gồm những vấn đề: – Cần thời gian thảo luận với người bệnh. – Phân tích tổng trạng và tâm lý người bệnh một cách chi tiết. – Có chương trình phỏng vấn và hướng dẫn người bệnh bao gồm đánh giá các bệnh lý nội khoa, nghe kém, ù tai, tâm lý và các điều kiện sinh sống khác. Ngoài ra còn hướng dẫn bệnh nhân hiểu rõ hoạt động của hệ thống thính giác, những tổn thương thường gặp của bệnh lý này cũng như các nguyên nhân của ù tai, yếu tố thúc đẩy hoặc cải thiện ù tai. – Cũng nên thăm hỏi ở những người thân, vợ hoặc chồng, bạn bè của người bệnh về việc đánh giá diễn tiến trong cuộc sống người bệnh. Điểm quan trọng cần nhớ: trước khi đưa ra lời khuyên về thay đổi lối sống, cần xác định các yếu tố ảnh hưởng lên ù tai bằng nhiều cách như đặt những câu hỏi qua email, phỏng vấn trực tiếp hoặc người bệnh tự ghi nhận các yếu tố này một cách hệ thống.

THAY ĐỔI LỐI SỐNG

Điều chỉnh kỳ vọng của người bệnh

Cần nhắc lại thường không thể điều trị ù tai mạn tính, điều chỉnh mức kỳ vọng của người bệnh là bước quan trọng trong quá trình làm giảm mức độ ù tai. Tyler (2001) cho rằng: điểm quan trọng là tạo niềm tin cho bệnh nhân, mặc dù việc điều trị cho hầu hết các trường hợp ù tai mạn tính là không thể được, tuy nhiên có nhiều phương pháp giúp giảm ù tai một cách hiệu quả. Các quan sát sau đây ở người bệnh ù tai cho thấy:

– Người bệnh thường có khuynh hướng tự kỷ và hướng nội (Newman: 1997). – Thường bực tức với âm ù, mong mỏi thoát khỏi âm này, lo lắng quá mức về sức khỏe, trí tuệ của mình (Hallan: 1988). – Có thái độ không phù hợp như cố gắng né tránh âm ù, cầu nguyện để không còn nghe âm ù và suy nghĩ viển vông đến tình trạng không còn ù tai, hay kể cho người khác về tình trạng ù tai, bi quan cho rằng đời mình thế là hết (Neher: 1991). – Budd và Pugh (1995): niềm tin và kỳ vọng của người bệnh đóng vai trò rất quan trọng đối với mức ù tai, từ đó có lối sống tích cực hoặc tiêu cực. Lối sống tích cực luôn là phương pháp giảm âm ù hiệu quả. – House (1981) có một số nhận xét:  Ù tai có thể dẫn đến hành động bất thường.  Dễ xảy ra xung đột trong cuộc sống.  Nổi ám ảnh có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm như xa lánh xã hội, tự cô lập, khó giao tiếp, có ý định tự tử.

Động viên và hướng dẫn người bệnh hiểu rõ ù tai không phải là tuyệt vọng, một số phương pháp giúp cải thiện tốt ù tai như khuếch đại âm có thể giúp giảm ù tai, nghe rõ hơn để từ đó người bệnh có lối sống tích cực hơn

Cải thiện giấc ngủ

Mất ngủ thường làm triệu chứng ù tai nặng hơn (Folmer và Giest: 2000), cải thiện giấc ngủ giúp giảm mức ù tai. Một số biện pháp giúp giấc ngủ tốt hơn như:

– Thiết kế hệ thống âm thanh ưa thích (nhạc nhẹ) trong phòng ngủ để giảm ù tai. – Một số thuốc giúp dễ ngủ: Alluna, Sominex, melatomin, hoặc Benadryl. – Thuốc gây ngủ: Ambien hoặc trazodone.  – Làm theo danh mục hướng dẫn của hội giấc ngủ Mỹ (www.sleepfoundation.org). – Năng động trong cuộc sống nhằm làm giảm stress, giúp giảm ù tai.  – Nếu người bệnh có giấc ngủ đầy đủ nhưng vẫn cảm thấy mệt mỏi, cần thăm khám lâm sàng, xét nghiệm chức năng tuyến giáp và nồng độ hemoglobin. Điều trị tốt bệnh lý nhược giáp hoặc thiếu máu thường làm giảm được mệt mỏi.

Giảm lo lắng

Mức ù tai có liên quan chặt chẽ với mức lo lắng, vì vậy giảm tress giúp giảm ù tai, đồng thời lo lắng thường kết hợp với yếu tố khác như mất ngủ, trầm cảm, khó giao tiếp, thất nghiệp, phương pháp điều trị của hội lo lắng Mỹ (www.adaa.org) có thể giúp điều trị triệu chứng này. Các phương pháp điều trị khác như thể dục, yoga, thuốc hoặc vật lý trị liệu cũng có thể có hiệu quả.

Đánh giá và điều trị trầm cảm

Ở người trầm cảm ù tai thường nặng hơn so với người không trầm cảm. Thật ra mức ù tai có liên quan chặt chẽ với mức độ trầm cảm, xác định và điều trị trầm cảm rất cần thiết trong chương trình kiểm soát ù tai. Tổ chức phòng ngừa chứng trầm cảm Mỹ đưa ra tiêu chuẩn tầm soát triệu chứng này với hai câu hỏi cơ bản:

– Trong hai tuần qua bạn có cảm thấy bị suy sụp, lo lắng hoặc tuyệt vọng?

– Trong hai tuần qua bạn có cảm thấy mất hứng thú trong công việc? Câu trả lời xác định cho hai câu hỏi này là tiền đề cho những phân tích tổng hợp của triệu chứng trầm cảm. Có thể sử dụng tiêu chuẩn trầm cảm của Beck (aBDI: 1972) gồm 13 câu hỏi được chọn lựa nhằm đánh giá trầm cảm đối với ù tai.  – 5-7 điểm: trầm cảm nhẹ. – 8-15 điểm: trầm cảm vừa. – ≥ 16 điểm: trầm cảm nặng. – Cần điều trị tích cực khi > 8 điểm. Folmer (2002) phân tích phối hợp giữa chỉ số aBDI và chỉ số mức độ ù tai ở 190 người bệnh trong thời gian 6-36 tháng sau lần điều trị đầu tiên, kết quả ghi nhận:  – Ở bệnh nhân có chỉ số aBDI giảm > 3 điểm sẽ có mức ù tai giảm đáng kể. – Nếu aBDI giảm < 2 điểm, mức cải thiện ù tai không đáng kể. – Nếu aBDI tăng ≥ 3 điểm mức ù tai không thay đổi. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc điều trị trầm cảm ở bệnh nhân ù tai.

Giảm lo lắng/phá vỡ vòng xoắn bệnh lý Vòng xoắn (hình 10.2) cho thấy ù tai, mệt mỏi, lo lằng và trầm cảm có thể tạo nên vòng xoắn bệnh lý và các yếu tố này tự thúc đẩy lẫn nhau. Sự phối hợp nội khoa và tâm lý liệu pháp giúp giảm mức độ các yếu tố này, vì vậy giảm mức ù tai. Điểm quan trọng là cần hiểu rõ mối tương quan giữa các triệu chứng này với triệu chứng ù tai. Điều trị tốt các chứng mất ngủ, lo lắng và trầm cảm sẽ làm giảm mức ù tai.

Vấn đề giao tiếp

Gần 90% bệnh nhân ù tai đều có nghe kém với những mức độ khác nhau (Meikle: 1997), phần lớn đều gặp khó khăn trong việc nghe hiểu khi giao tiếp, khi nghe ti vi hoặc trong các hội nghị.

Đối với dạng nghe kém còn đáp ứng tốt với kỹ thuật khuếch đại âm, nên khuyến khích sử dụng trợ thính.

Các thuốc sử dụng Một ít thuốc đặc biệt hiệu quả làm giảm mức ù tai, các thuốc điều trị chứng mất ngủ, lo lắng, trầm cảm, sợ ánh sáng, căng thẳng hoặc những triệu chứng tâm lý khác.  Pampallona (2004) trong một tổng quan 16 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy tâm lý liệu pháp kết hợp thuốc chống trầm cảm có tác dụng hơn so với dùng thuốc đơn thuần. Bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng lên biến dưỡng cũng có thể ảnh hưởng lên nghe kém và ù tai, vì vậy các bệnh lý nội khoa như cường giáp, suy giáp, đái tháo đường hoặc giảm đường huyết, tăng lipid máu và tăng huyết áp cần được chẩn đoán và điều trị thích hợp.  Một số thuốc gây độc cho tai như quinine (vọp bẻ ở chân, hội chứng chân cử động liên tục), valproic acid (chống động kinh), lợi tiểu (furosemide) dùng trong nhiều năm để điều trị cao huyết áp, các thuốc này có thể làm nặng thêm nghe kém và ù tai. Các thuốc kháng trầm cảm, chống lo lắng, thuốc ngủ đều có thể kích hoạt ù tai ở một số ít bệnh nhân khi sử dụng các thuốc này, tuy nhiên hầu hết các trường hợp ù tai sẽ giảm dần sau khi ngưng thuốc. Đối với người bệnh có nhiều kinh nghiệm ù tai, hiện tượng này không phải là lý do để tránh sử dụng các thuốc trên, thí dụ: ở bệnh nhân có bệnh lý tim mạch không nhất thiết phải cấm sử dụng aspirin (81 mg/ngày) nếu có chỉ định đối với kháng đông và kháng viêm.

Chế độ ăn uống

Tyler (2006) trong một nghiên cứu ở 60 bệnh nhân ù tai cho thấy:

– Sử dụng cà phê vừa phải không ảnh hưởng nhiều đến ù tai (9 bệnh nhân), tuy nhiên sử dụng liều lớn sẽ ảnh hưởng. – Đường, muối và một số thực phẩm có thể làm gia tăng mức ù tai.

Rượu

Sử dụng một ít rượu không ảnh hưởng đến ù tai và có khi còn giúp thư giãn, ít chú ý đến ù tai hơn, tuy nhiên dùng với số lượng lớn sẽ làm ù tai nặng hơn. Như một quy luật: khi uống đến một lượng rượu bắt đầu gây khó chịu như nhức đầu, choáng váng, hoa mắt đây chính là lượng rượu gây ù tai.

Một số thuốc

Ginkgo biloba (Tanakan): trong một nghiên cứu mù đôi có nhóm chứng ở 1121 bệnh nhân ù tai, Drew và Davies (2001) cho thấy loại thuốc này có tác dụng không khác so với giả dược đối với mức giảm ù tai. Đa sinh tố/khoáng chất dùng hằng ngày sau khi ăn, đơn thuần thuốc này không có tác dụng giảm ù tai, tuy nhiên thuốc giúp duy trì hoặc cải thiện tổng trạng người bệnh, tăng cường chức năng dinh dưỡng đối với hệ thống thính giác vì vậy có thể cải thiện mức nghe tốt hơn.

Tập thể dục

Rất có lợi trong việc giảm ù tai, cần lưu ý trong thời gian đầu tập thể dục có thể làm tăng ù tai, điều này có thể do tăng áp lực máu đến cơ quan thính giác khi luyện tập, tuy nhiên đây chỉ là triệu chứng tạm thời, về lâu dài tập thể dục giúp giảm stress, tăng cường tim mạch, lực cơ và cải thiện giấc ngủ.

Giảm tiếp xúc tiếng ồn

Khuyến khích người bệnh đeo nút tai chống ồn do tiếng ồn gây nghe kém tiếp nhận thần kinh, tăng mức ù tai.

Giải mẫn cảm hệ thống thính giác

Tăng cảm giác nghe âm (tăng thính) khiến người bệnh xa lánh những nơi ồn ào như nhà hàng, nhà hát, sân vận động, các buổi hòa nhạc cũng như rất ghét các âm phát ra từ máy hút bụi, tiếng thắng xe hoặc tiếng chạm ly, tách. Cần giải thích cho bệnh nhân hiểu rõ hiện tượng tăng thính do tổn thương tế bào lông ngoài ốc tai dẫn đến hiện tượng hồi thính gây ra cảm giác khó chịu khi tiếp xúc với âm có cường độ lớn. Một số bệnh nhân rất sợ âm thanh, vì vậy luôn đeo nút tai chống ồn, tránh những nơi làm việc và các hoạt động xã hội, phản ảnh tình trạng tâm thần của người bệnh không ổn định. Cần tham vấn cho người bệnh những vấn đề như sau:

– Không nên đeo nút tai chống ù trừ khi tiếp xúc với tiếng ồn ở mức nguy hại cho tai. Lạm dụng nút tai chống ồn có thể kéo dài tình trạng tăng thính. – Nên nghe những âm ưa thích thí dụ: âm nhạc, âm gây ù ở mức thoải mái nhất. Có thể nghe những âm này qua headphone hoặc hệ thống loa. Thường xuyên nghe các âm này có thể giúp giảm sự lo sợ tiếp xúc âm. – Khuyến khích tham gia hoạt động xã hội càng nhiều càng tốt. Thật sự môi trường thành phố thường rất ồn, người bệnh cảm thấy rất khó chịu nhưng hiện tượng sợ và xa lánh âm thanh không phải là một lối sống lành mạnh, chính vì vậy việc tiếp xúc với âm thanh một cách thường xuyên mới thật sự có lợi cho người bệnh. – Cũng cần đánh giá và điều trị tốt tình trạng tâm thần kinh, điều này giúp phá vỡ vòng xoắn bệnh lý, giảm lo sợ và có hành vi phù hợp hơn.

Cải thiện việc làm và trách nhiệm

Hầu hết người bệnh đều ít chú ý đến âm ù khi bận rộn với công việc, vì vậy khuyến khích người bệnh nên dành nhiều thời gian cho công việc mà họ yêu thích, chính công việc giúp cho người bệnh có cảm giác tự tin, sống có mục đích cũng như cải thiện về mặt tài chính khiến họ an tâm hơn, vì vậy ít khi than phiền về triệu chứng ù tai.

Quan điểm chung

Ù tai có thể điều trị bằng thuốc: sinh lý bệnh hiện nay cho thấy ù tai là hậu quả của sự biến đổi hoạt động thần kinh trung ương, do sự kích thích thần kinh có thể được vận hành bởi các hóa chất thần kinh trung gian, các hợp chất tác động trên kênh phát xung thần kinh, vì vậy không có lý do gì để cho rằng ù tai không thể điều trị bằng thuốc. Bằng chứng: lidocaine, một chất ức chế kênh sodium có thể giảm ù tai đến 70% trường hợp, tuy nhiên do tính khả dụng sinh học kém theo đường uống, lidocaine chỉ hiệu quả theo đường tĩnh mạch, tác dụng trong thời gian ngắn với một số tác dụng phụ đáng kể. Các loại thuốc tê tại chỗ mới như tonicaine, sameridine có tác dụng kéo dài cũng đã được nghiên cứu trong điều trị ù tai. Hiện nay một loại băng dán lidocaine trong giai đoạn thử nghiệm, nếu thành công, đây sẽ là loại thuốc đầy hứa hẹn (công ty dược Epicept).

Điều trị ù tai cấp Được sự đồng thuận giữa các nhà lâm sàng và những nhà nghiên cứu về các cơ chế thần kinh liên quan đến sự khởi phát ù tai và sự chuyển dạng từ cấp sang mạn, vì vậy điều trị cũng sẽ có nhiều thay đổi với thời gian kéo dài của bệnh. Sự phân loại dạng cấp và mạn cũng chưa được rõ ràng, hiện nay chủ yếu dựa vào thời gian từ 3-6 tháng. Phần lớn các trường hợp ù tai cấp tự thoái lui, chiến lược điều trị chủ yếu tạo môi trường thuận lợi cho ù tai tự phục hồi. Thí dụ: ù tai trong điếc đột ngột hoặc do chấn thương âm, chiến lược điều trị là phục hồi chức năng nghe qua đó giảm ù tai. Trong điếc đột ngột đến 65% trường hợp tự phục hồi, số còn lại không phục hồi, điều này gợi ý có nhiều dạng điếc đột ngột khác nhau với những nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân mạch máu, viêm và nhiễm trùng đáng kể nhất. Vì vậy chiến lược điều trị bằng steroids hệ thống hoặc xuyên nhĩ, các thuốc vận mạch và thuốc kháng siêu vi được sử dụng. Hiện nay steroids xuyên nhĩ có tác dụng tương đương với prednisone đường uống liều cao, phương pháp này cần được thực hiện trong giai đoạn sớm với ù tai do tiếng ồn có cường độ cao (> 85 dB) như sau các vụ nổ, các buổi hòa nhạc. Tiếp xúc tiếng ồn một lần, lặp lại nhiều lần hoặc liên tục có thể gây nghe kém, ù tai. Tiếng ồn cường độ lớn có thể gây tổn thương tế bào lông ngoài không hồi phục cũng như có tác dụng độc trên các sy náp giữa tế bào lông ngoài, lông trong và sợi hướng tâm của thần kinh ốc tai. Tổn thương tế bào thần kinh làm tổn thương tế bào hạch xoắn thần kinh do lệ thuộc vào các chất như neurotrophin NT-3 và các yếu tố thần kinh khác. Sự tích lũy các gốc tự do, tác dụng độc của các thụ thể glutamate. Thử nghiệm cho thấy 4 g Mg granulate đường uống (6.7 mmol Mg aspartate)/ngày làm giảm nghe kém sau khi tiếp xúc tiếng ồn, 1200 mg N-acetylcysteine (NAC)/ngày giúp bảo vệ công nhân tiếp xúc với tiếng ồn khá hiệu quả. Các thuốc mới hiện được nghiên cứu như alpha-phenyltert butyl nitrone (HPN-07) tác động lên các gốc tự do, SPI-1005 (ebselen) kháng oxy hóa, AM-101 là chất NMDA antagonist xuyên nhĩ với liều (810 µg/ml) x 3 ngày liên tục cho thấy có hiệu quả trong điếc do chấn thương âm cấp.  Tóm tắt: với ù tai cấp đặc biệt xảy ra cùng lúc với điếc đột ngột, quá trình điều trị thường chỉ là giai đoạn ngắn với một số thuốc, đặc biệt steroids xuyên nhĩ hoặc đường uống liều cao. Các thuốc khác vẫn chưa cho thấy hiệu quả thật sự, điều này có thể do tính phức tạp của nguyên nhân ù tai và điếc đột ngột.

Điều trị ù tai mạn

Quan điểm chung: chưa có thuốc được chứng minh điều trị hiệu quả thật sự đối với ù tai mạn. Tuy nhiên một số thuốc được sử dụng trên lâm sàng với nhiều kỳ vọng.

Kháng trầm cảm Thường được sử dụng do có sự kết hợp đồng thời trầm cảm và ù tai, cũng như sự chồng lấp các triệu chứng và bệnh lý của hai bệnh này. Bên cạnh đó kháng trầm cảm là thuốc hiệu quả nhất trong điều trị hội chứng đau thần kinh mạn tính tương tự với nhiều dạng ù tai. Vì vậy chọn lựa kháng trầm cảm về mặt lâm sàng cần chú ý các bệnh lý kết hợp và tác dụng phụ của các thuốc này.

Tricyclic antidepressants

Tác dụng trên hội chứng đau mạn tính Biệt dược: – Nortriptyline: giảm trầm cảm, ù tai, đặc biệt hiệu quả khi ù tai kết hợp trầm cảm nặng nhưng không hiệu quả trong trường hợp ù tai không kết hợp trầm cảm. – Amitriptyline: 100 mg x 6 tuần giúp giảm cường độ ù tai. – Selective serotonin inhibitors (SSRI):  Paroxetine: giảm ù tai trong trường hợp có trầm cảm. Kết hợp paroxetine và vestipitant (neurokinin-1 receptor antagonist) giúp giảm lo lắng.  Sertraline: giảm cường độ ù tai trong trường hợp không có nghe kém nhưng có trầm cảm, lo lắng và ù tai.

Benzodiazepines Benzodiazepines kết hợp với GABAA receptor, giảm ức chế xung thần kinh ly tâm, vì vậy làm tăng dẫn truyền xung thần kinh hướng tâm làm giảm ù tai. Bên cạnh đó đặc tính giảm lo lắng và gây ngủ giúp benzodiazepines có hiệu quả ở các trường hợp ù tai kết hợp lo lắng và mất ngủ. Thuốc này thường gây lệ thuộc, ù tai xuất hiện trở lại sau khi ngưng thuốc. Biệt dược: – Alprazolam: giảm cường độ ù tai 75%, 1,5 mg/ngày x 12 tuần. – Diazepam: hiệu quả không rõ ràng. – Clonazepam: (0.5-1 mg/ngày x 60-180 ngày) đối với triệu chứng tiền đình ốc tai. – Clonazepam + Ginkgo biloba: tăng liều Ginkgo biloba 01 viên mỗi 3 ngày, liều tối đa 4 viên/ngày cho đến khi có cảm giác thoải mái hoặc có tác dụng phụ xảy ra.

Non-benzodiazepine anticonvulsants

Các thuốc kháng động kinh không benzodiazepine được dùng điều trị các bệnh lý không co giật bao gồm các rối loạn tâm lý, hội chứng đau và ù tai. Cơ chế tác dụng trên các kênh canxi và sodium cũng như trên sự dẫn truyền sy náp chủ yếu là GABAA receptors do các thuốc kháng động kinh giảm kích thích thần kinh hướng tâm, vì vậy được dùng điều trị ù tai. Nhìn chung kháng động kinh cho hiệu quả thấp và chưa có bằng chứng tích cực điều trị ù tai.

Carbamazepine (tegretol): giảm phát xung thần kinh bằng cách bám vào kênh sodium và ổn định sodium. Carbamazepine được dùng điều trị ù tai trong các trường hợp đáp ứng tốt với lidocaine IV trước đó. Liều dùng 600-1000 mg/ngày, đặc biệt hiệu quả với ù tai giống tiếng gõ đánh máy do thần kinh phát xung ngắt quảng, có nhịp. Gabapentin: tác động trên kênh canxi, dùng điều trị động kinh, đau thần kinh và migraine. Có tác dụng chống ù tai do chấn thương âm, ù tai kết hợp tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn lipid máu. Pregabalin: Giống gabapentin về cơ chế tác dụng. Điều trị động kinh, đau thần kinh và lo lắng, mất ngủ. Dùng điều trị ù tai liên quan đến lo lắng và mất ngủ. Lamotrigine: chất ức chế kênh sodium và ổn định màng tế bào. Hiệu quả chưa rõ. Valproic acid: thuốc dùng điều trị động kinh với nhiều cơ chế khác nhau.

Hợp chất Antiglutamate

Các thuốc kháng glutamate với cơ chế tác dụng giảm kích thích dẫn truyền xung thần kinh hướng tâm. Sự gia tăng dẫn truyền thần kinh của glutamate có vai trò trong ù tai cấp ngoại biên nhưng cũng có vai trò đối với ù tai mạn thuộc hệ thần kinh trung ương. Kháng glutamate ức chế xung thần kinh hướng tâm sau chấn thương âm giúp phòng chống độc tính tiếng ồn và giảm tổn thương tế bào lông. Caroverine: chất đối kháng non-NMDA và NMDA được sử dụng tại chỗ và hệ thống với nhiều kết quả trái ngược nhau. Acamprosate: non-selective NMDA receptor antagonist, theo đường uống được dùng điều trị nghiện rượu, thời gian điều trị cho đến 90 ngày. Bên cạnh đó thuốc này còn được sử dụng điều trị ù tai với thời gian 6 tuần. Memantine: non-selective NMDA antagonist.

Dopaminergic-antidopaminergic drugs

Trên cơ sở: đường dẫn truyền dopaminergic ở vùng trước trán có thể liên quan đến ù tai. Antidopaminergic có tác dụng ức chế xung thần

kinh ốc tai, gợi ý có vai trò điều trị ù tai giai đoạn sớm. Sulpiride: giảm mức ù tai, có tác dụng cao hơn khi phối hợp với hydroxyzine (kháng histamine và giảm lo lắng) hoặc với melatonin. Piribedil: ít tác dụng. Pramipexole: agonist D2/D3 receptor, dùng trong ù tai, nghe kém ở người lớn tuổi với liệu trình 4 tuần.

Các thuốc giãn cơ  Baclofen: GABAB agonist, giãn cơ, giảm cường độ âm tiếp xúc, tăng kích thích củ não dưới, liệu trình 3 tuần với liều tăng dần (cho đến 60 mg/ngày). Orphenadrine: 100 mg/ngày. Tizanidine: 24 mg/ngày Eperisone: 50 mg/ngày Cyclobenzaprine: 30 mg/ngày. Các loại thuốc khác:  Atorvastatin: HMG-CoA reductase Cyclandelate: chất giãn mạch. Furosemide: Lợi tiểu vòng Gingko biloba: tanakan Melatonin Misoprostol: tương tự prostaglandin E1. Nimodipine: chất ức chế kênh calci. Vardenafil: phosphodiesterase type 5 inhibitor Zinc: khoáng chất

ĐỀ XUẤT CÔNG THỨC ĐIỀU TRỊ

Sau khi đánh giá, hướng dẫn và áp dụng các thiết bị chống ù tai-trợ thính hoàn chỉnh, nhà thính học cần liệt kê một danh sách như là một công thức dành riêng cho mỗi bệnh nhân. Công thức bao gồm: liệu pháp nghe âm thích hợp, thiết bị bảo vệ sức nghe (nút tai chống ồn khi tiếp xúc âm quá lớn hoặc trợ thính) và một chiến lược kiểm soát và điều trị mất ngủ, lo lắng hoặc trầm cảm. Cần thăm khám thêm về tâm thần kinh để có hướng xử trí hỗ trợ.

LOẠI BỎ CHỨC NĂNG THÍNH GIÁC VÀ SỰ THÍCH ỨNG THẦN KINH

Kích thích âm để điều trị ù tai bao gồm một loạt các âm và hệ thống phát âm, phương pháp điều trị này dựa vào giả thuyết cho rằng: nghe kém dẫn đến tái cấu trúc đường dẫn truyền thính giác.  – Nghe kém làm giảm xung thần kinh hướng tâm từ ốc tai đến vỏ thính giác. – Nghe kém làm thay đổi hoạt động thính giác thân não và trung não, qua đó làm thay đổi bản đồ âm của vỏ thính giác (hình 1). – Phát xung tự ý ở thân não gia tăng làm giảm ức chế bù trừ. – Thay đổi hoạt động dẫn truyền thính giác có thể gây ù tai. – Kích thích âm làm phục hồi xung hướng tâm trở về mức bình thường thông qua cải thiện cơ chế ức chế, phục hồi bản đồ âm ở vỏ thính giác, qua đó giảm ù tai.

Đau đoạn chi (cơn đau ma) tương tự với ù tai với cùng cơ chế thích ứng vỏ não. – Hội chứng đau ma là cảm giác đau ở chi sau khi đã bị đoạn chi. – Sự tương đồng giữa ù tai và đau đoạn chi:  Tốc độ khởi phát  Thời gian kéo dài  Tuổi bị ảnh hưởng  > 90% người bị đoạn chi có cơn đau ma ngay sau đoạn chi[30]  Cơn đau ma thường xảy ra ở người lớn, ít xảy ra ở tẻ con – Cơn đau kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần và có khi hằng năm. Não ở người trưởng thành và chưa trưởng thành điều có thể thay đổi thích ứng. Thích ứng thần kinh là khả năng của thần kinh hoặc mạn thần kinh thay đổi về mặt chức năng, cấu trúc và kết nối nhau theo thời gian, tính hiệu quả các các synap[32]. Thần kinh có thể thay đổi đáp ứng với các xung hướng tâm, qua đó thay đổi vùng tiếp nhận tại não qua cơ chế giảm hoặc tăng xung hướng tâm và phương pháp huấn luyện, sự thay đổi này có thể mở rộng vùng ảnh hưởng tại não[33].

Kích thích điện từ não các vùng cơ thể nguyên vẹn xa với vị trí đoạn chi cho thấy có sự hoạt động thần kinh trung ương ở vùng vỏ não  phụ trách phần chi đã được cắt bỏ[34]. Sự thay đổi cũng tương tự ở vỏ thính giác và gây ra ù tai. Kích thích điện từ vỏ thính giác nguyên phát sẽ làm gia tăng âm ù, giả thuyết loại bỏ thần kinh (deafferentation hypothesis) được dùng để đánh giá phương pháp âm thanh điều trị ù tai nhằm phục hồi sự thích ứng thần kinh trung ương. Norena và Eggermont[39] cho thấy hiệu quả âm kích thích đối với chấn thương âm ở vỏ não nguyên phát hoặc thứ phát trên mèo. Sự điều chỉnh tần số ở thần kinh vỏ não thay đổi sau chấn thương, làm biến dạng âm và làm thay đổi các tần số âm phát ra. Một kết quả khác là mèo nghe được nhiều âm môi trường sau nhiều tuần lễ trước khi tái mã hóa bản đồ tần số ở vỏ thính giác. Từ hai quan sát này cho thấy: – Nghe kém ở mèo giảm đáng kể khi so sánh với mèo tiếp xúc với âm tương tự nhưng ở trong môi trường yên tĩnh. – Không có hiện tượng tái cấu trúc vỏ thính giác. – Bản đồ tần số của mèo tiếp xúc âm và đã được điều trị tương tự với nhóm mèo kiểm soát.

Kết quả nghiên cứu gợi ý: – Ù tai có thể là hậu quả của sự tái cấu trúc vỏ thính giác bất thường. – Phương pháp dùng âm điều trị ù tai có thể hiệu quả khi giảm hoặc loại bỏ cấu trúc vỏ thính giác bất thường chịu trách nhiệm ù tai. – Phương pháp dùng âm điều trị ù tai cho nhiều hiệu quả.

DÙNG ÂM LÀM GIẢM ÂM Ù VÀ KHÓ CHỊU DO Ù TAI

Dùng âm thanh là phương pháp quan trọng để điều trị ù tai, nhiều chiến lược sử dụng âm đã được ứng dụng. Nghe kém nặng đến điếc đặc không hiệu quả với khuếch đại kinh điển có thể giảm ù tai bằng kích thích đường dẫn truyền thính giác như cấy ốc tai điện tử. Tham vấn có vai trò quan trọng, điều trị thất bại có thể do nhầm lẫn kì vọng của người bệnh như loại bỏ toàn bộ âm ù chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần sau điều trị. Cần tham vấn người bệnh diễn tiến và thời gian cải thiện. Dùng âm điều trị có thể làm giảm mức ù tai, giảm sự khó chịu nhưng cần thời gian nhiều tháng.

Dùng âm môi trường Phương pháp đơn giãn nhất để gia tăng xung hướng tâm và đảo ngược tái cấu trúc thần kinh trung ương và làm giảm âm ù chính là âm môi trường, phương pháp này đã được khuyến cáo > 50 năm. Làm giàu âm môi trường qua âm nhạc, nghe radio, các máy phát âm, tiếng thác nước đổ. Hướng dẫn người bệnh dùng âm môi trường để giảm sự chú ý âm ù chứ không phải che lấp âm ù hoặc loại bỏ hẳn âm ù. Gia tăng mức âm nền làm cho âm ù trở nên ít được chú ý hơn. Âm thanh giúp cải thiện giấc ngủ.

Với ù tai và nghe kém, âm điều trị thực sự hiệu quả khi sự khuếch đại âm thích hợp qua trợ thính. Trợ thính đơn thuần cũng thực sự có hiệu quả đối với ù tai[42] do giảm sự chú ý ù tai thông qua sự khuếch đại âm môi trường, đồng thời giúp giao tiếp dễ dàng hơn bớt chú ý và căng thăng trong khi giao tiếp. Surr[45] tổng quan hiệu quả của trợ thính đối với ù tai ở 124 bệnh nhân, khoảng ½ bệnh nhân cho biết trợ thính giảm ù 26% hoặc mất âm ù 29%. Folmer và Carroll[46] nghiên cứu ở 50 bệnh nhân nghe kém tiếp nhận thần kinh nhẹ đến trung bình, có lắp đặt trợ thính để điều trị ù tai. Đánh giá sau 6-48 tháng (trung bình 18 tháng), 70% bệnh nhân cho biết cải thiện ù tai đánh kể. Trotter MI và Donaldson I[47] (2008): nghiên cứu ở 1440 bệnh nhân cho thấy trợ thính kỹ thuật số giúp giảm ù tai hơn so với trợ thính analog (50% so với 39%: nghe kém một bên), (50% so với 30%: trợ thính hai bên). Chìa khóa thành công với khuếch đại âm: – Lắp đặt mở, không gây tắc nghẽn ống tai ngoài. – Thời gian tiếp xúc âm khá lâu. – Cường độ và tần số âm hợp lý. – Cường độ âm < âm ù.

Che lấp toàn bộ âm ù Lần đầu tiên được đề xuất bởi Vernon và Schleuning[48] (1978): – Lắp đặt thiết bị phát âm ở tai, có thể điều chỉnh cường độ và tần số âm phát.

– Nguyên tắc lắp đặt máy phát: xác định mức âm tối thiểu phát ra để che lấp âm ù nhưng không ảnh hưởng đến giao tiếp. – Lắp đặt thiết bị phát âm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. – Hiện nay: sử dụng âm tần số cao nằm trong dải âm ù có thể che lấp toàn bộ âm ù.

Mục tiêu của huấn luyện âm là loại bỏ, làm giảm hoặc làm thay đổi âm ù bằng tập làm quen với cảm giác ù tai, tập làm quen sẽ làm giảm sự khó chịu, lo lắng và kích động. Điều trị bằng âm thanh với 5 mức khác nhau. Sự phân loại dựa trên sự khó chịu ù tai kết hợp nghe kém, sự hiện diện của âm gây kích hoạt ù tai và tăng thính. 5 dạng bệnh nhân: – Ù tai gây khó chịu tối thiểu: loại 0  – Ù tai gây khó chịu: loại 1 – Ù tai gây khó chịu và nghe kém: loại 2 – Ù tai gây khó chịu, sức nghe bình thường, tăng thính: loại 3 – Ù tai gây khó chịu, sức nghe bình thường, tăng thính và ù tai kéo dài làm gia tăng ù tai: loại 4.

Điều trị chuyên biệt cho mỗi dạng bệnh nhân, tham vấn trực tiếp, gia tăng mức nghe, trợ thính và dùng máy phát âm.

Kết quả: – Hiệu quả tích cực  – Giảm khó chịu, giảm ù tai từ 12-18 tháng[54]

Chương trình giải mẫn cảm ù tai Chương trình bao gồm: – Tùy thuộc vào đặc trưng âm ù  – Giải mẫn cảm hệ thống: là kỹ thuật tâm lý nhằm ổn định nỗi ám ảnh sợ hãi bằng cách thư giãn, ổn định tâm lý. Cho người bệnh nghe âm nền tăng dần trong môi trường thoải mái, hứng thú. 3 yếu tố quan trọng:  Dùng nhạc nhẹ tùy thuộc vào mức nghe kém của bệnh nhân  Mức âm gia tăng theo mức nghe kém

 Kích thích đường dẫn truyền thính giác ở dải nghe tần số rộng – Tham vấn trực tiếp – Can thiệp hỗ trợ – Cải thiện giấc ngủ

Điều trị ù tai qua nhận thức hành vi Cách điều trị này dựa trên quan điểm cho rằng: phản ứng bình thường với kích thích không ý nghĩa là một thói quen và ù tai là hậu quả của mất thói quen.

TÓM TẮT

Kinh nghiệm cho thấy sự tuân thủ các hướng dẫn theo những trình tự như được trình bày trên đã giúp ích rất nhiều cho người bệnh trong việc cải thiện triệu chứng ù tai. Chính người bệnh mới có thể tự giúp mình cải thiện bệnh lý khi thực hiện một cách nghiêm túc công thức điều trị đã được đề ra, thầy thuốc có vai trò trong việc hướng dẫn và khuyến khích người bệnh áp dụng và thực hiện triệt để phương án điều trị.

Tài liệu tham khảo 1.  Sh~rodsky J, Curhan GC, Farwdl WR. Prevalence and characteristics of tinnitus among US adults. Am/ Med2010;123:711- 718. 2.  Seidman MD, Standring Kf, Domhoffer JL. llnnitus: Cllirellt understanding and contemporary management Curr Opin Owlaryngol Head Neck Surg 2010;18:363-368. 3.  Moller AR Pathophysiology of tinnitus. Owlaryngol Clin North Am 2003;36:249-266, v-vi. 4.  Mattox DB. Hudgins P. Algorithm for evaluation of pulsatile tinnitus. Acta Owlaryngol2008;128:427431. 5.  Sismanis A. Pulsatile tinnitus. OW!aryngol Qin North Am 2003;36:389-402, viii. 6. H. Pathophysiology of tinnitus. PrrJ: Brain Res 2007;166:19- 35. 7.  Middleton JW, Kiritani T, Pedersen C, et al. Mice with behavioral evidence of tinnitus exhibit dorsal cochlear nucleus hyperactivity because of decreased GABAi:rgic inhibition. Proc Natl Acad Sci US A 2011;108:7601.

8.  Melcher JR. Levine RA. Bergevin C, et al. The auditory midbrain of people with tinnitus: abnormal sound-evoked activity revisited. Hear Res 2009;257:63-74. 9.  Lanting CP, de Kleine E, van Dijk P. Neural activity underlying tinnitus generation: results from PET and fMRI. Hear Res 2009;255:1-13. 10. Kaltenbach JA. llnnitus models and mechanisms. Hear Res 2010;276:52-60. 11. De Ridder D, Elgoyhen AB, Romo R. et al Phantom percepts: tinnitus and pain as persisting aversm memory networks. Proc Natl Acad Sci US A 2011;108:8075-8080. 12. Moller AR. Neural plasticity in tinnitus. Prog Brain Res 2006;157:365-372. 13. GothclfD, Farber N, Raveh E, et al. Hyperacusis in Williams syndrome: characteristics and associated neuroaudiologic abnormalities. Neurology 2006;66:390-395. 14. Beisinger B, Del Bo L, De Ridder D, et al. Algorithm for the diagnostic & therapeutic management of tinnitus. TRI Tinnitus Qinic Networlt, 2008. 15. Del Bo L. Ambrosetti U. Hearing aids for the treatment of tinnitus. Prog Brain Res 2007;166:341345. 16. Jastreboff MM. Sound therapies for tinnitus management. Prog Brain Res 2007;166:435-440. 17. Tyler R, Coelho C, Tho P, et al. Identifying tinnitus subgroups with cluster analysis. Am J Audioi2008;17:S176-S184. 18. Sweetow Rw; Sabes JH. Effects of acoustical stimuli delhued through hearing aids on tinnitus. JAm.Acad.Audiol2010;21:461-473. 19. Hanley PJ, Davis PB. Treatment of tinnitus with a customized, dynamic acoustic neural stimulus: underlying principles and clinical efficacy. TtBnds Ampli/2008; 12:210-222. 20. Wazen JJ, Daugherty J, Pinsky K. et al. Evaluation of a customized acoustical stimulus system in the treatment of chronic tinnitus. Owl Neurowl2011;32:710-716. 21. PanT, Tyler RS, Ji H, et al. Changes in the tinnitus handicap questionnaire after wchlearimplantation. Am] Audiol2009;18:144- 22. Punte AK, Vermeire K. Hofkens A. et al. Cochlear implantation as a durable tinnitus treatment in single-sided deafness. Cochlear Implants Int 2011;12:26-29. 23. Olze H, Szczepek AJ, Haupt H, et al. The impact of cochlear implantation on tinnitus, stress and quality of life in postlingually deafened patients. Audio! Neurvotol2012;. 30. Ramachandran VS, Hirstein W: The perception of phantom limbs. The D. O. Hebb lecture. Brain 121(Pt 9):1603–1630, 1998.

32. Moller AR: The role of neural plasticity in tinnitus. Prog Brain Res 166:37–45, 2007.  33. Merzenich MM, Nelson RJ, Stryker MP, et al: Somatosensory corti- cal map changes following digit amputation in adult monkeys. J Comp Neurol 224(4):591–605, 1984.  34. Yang TT, Gallen CC, Ramachandran VS, et al: Noninvasive detec- tion of cerebral plasticity in adult human somatosensory cortex. Neuroreport 5(6):701–704, 1994. 39. Norena AJ, Eggermont JJ: Enriched acoustic environment after noise trauma reduces hearing loss and prevents cortical map reor- ganization. J Neurosci 25(3):699–705, 2005. 42. Bentler RA, Tyler RS: Tinnitus management. ASHA 29(5):27–32, 1987.

45. Surr RK, Montgomery AA, Mueller HG: Effect of amplification on tinnitus among new hearing aid users. Ear Hear 6(2):71–75, 1985.  46. Folmer RL, Carroll JR: Long-term effectiveness of ear-level devices for tinnitus. Otolaryngol Head Neck Surg 134(1):132–137, 2006. 47. Trotter MI, Donaldson I: Hearing aids and tinnitus therapy: a 25-year experience. J Laryngol Otol 122(10):1052–1056, 2008.  48. Vernon J, Schleuning A: Tinnitus: a new management. Laryngo- scope 88(3):413–419, 1978. 54. Bartnik G, Fabijanska A, Rogowski M: Effects of tinnitus retraining therapy (TRT) for patients with tinnitus and subjective hearing loss versus tinnitus only. Scand Audiol Suppl 52:206–208, 2001.